Mấy giờ rồi nhỉ?

Thành viên trực tuyến:

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Hoàng Thúy Hoa)
    • (Nguyễn Kim Dung)

    BÁO MỚI

    Về Trang Chủ

    Chào mừng quý vị đến với Website Hoàng Gia.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Nhà bác học Lê Quý Đôn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: ST
    Người gửi: Hoàng Thúy Hoa (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:08' 18-06-2009
    Dung lượng: 42.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Nhà bác học Lê Quý Đôn -Hưng Hà - Thái Binh
    Lê Quí Đôn người có công đầu tiên nghiên cứu về xứ Đàng Trong Lê Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2/8/1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)... Lê Quý Đôn mất ngày 1/5/1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà. Tác phẩm của Lê Quý Đôn có thế kể đến như: Bắc sứ thông lục, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, Toàn Việt thi lục…Phủ biên tạp lục, là tập bút ký của Lê Quý Đôn viết về Đàng Trong, nhất là xứ Thuận và xứ Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước. Năm 1776, Lê Quý Đôn giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hoá. Trong sáu tháng ở đây, ông đã ghi chép lại tất cả những điều mắt thấy tai nghe và tập bút ký này được đặt tên là Phủ biên tạp lục. Tác phẩm giới thiệu về tình hình núi sông, thành quách, phong thổ, nhân vật của xứ Thuận Hoá và cho chúng ta biết danh số các phủ huyện, tổng, xã, thôn của xứ Thuận và xứ Quảng lúc đó. Phủ biên tạp lục cung cấp nhiều tài liệu về chế độ ruộng đất, thuế khoá, chế độ trưng bình, binh chế của xã hội Đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước. Tác phẩm được chia làm 6 phần (tức là 6 quyển). Quyển I. Sự tích khai thiết khôi phục hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Danh số phủ, huyện, tổng, xã, thôn, trang trại hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Quyển II. Hình thế núi sông, thành luỹ, trị sở, đường sá, bến đò, nhà trạm hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Quyển III. Số ngạch công tư điền trang và hoa châu, lệ cũ và tổng số thóc gạo trưng thu ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam; Lệ cũ và quan thuộc chức thủ các ty trấn dinh và về thi cử ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam; Lệ cũ và tổng số về số ngạch nhân đinh, duyệt tuyển các hạng, kén chọn lĩnh hạng, chia đặt quân hiệu ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Quyển IV. Lệ thuế đầu nguồn, tuần tu, đầm, hồ, chợ đò, thuế vàng bạc đồng sắt, và lệ vận tải ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Quyển V. Nhân tài, thơ văn. Quyển VI. Vật sản, phong tục Đây là tác phẩm có giá trị của Lê Quý Đôn, là tài liệu quý cho các nhà nghiên cứu sử học, kinh tế học, địa lý học, dân tộc học… Lê Quí Đôn viết về cảnh trao đổi hàng hóa ở Hội An: “ Thuyền từ Sơn Nam về chỉ mua được một thứ củ nâu, từ Thuận Hóa về chỉ mua được hồ tiêu, còn từ Quảng Nam (Hội An về thì mua hàng hóa không thứ gì mà không có. Phàm hóa vật sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Bình Khang và Nha trang, đường thủy bộ, đi thuyền đi ngựa đều hội tụ ở Phố Hội An. Trước đây hàng hóa nhiều lắm, dù một trăm chiếc tàu to chở một lúc cũng không hết” Về xứ Mô Xoài nay thuộc tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu ông viết: ”Đời trước lập Gia Định, tất trước mở xứ Đông Nai, để cho quân dân hoàn tụ, rồi mới mở xứ Sài Gòn… Nay đất cũ tự Mỗi Soài đến Sài Gòn đường đi hai ngày… Phủ Gia Định, đất Đồng
     
    Gửi ý kiến